Trong thực tế, sự trùng hợp trong sáng tạo là điều hoàn toàn có thể xảy ra – hai cá nhân hoặc tổ chức, dù không liên quan hay trao đổi với nhau, lại cùng nghiên cứu và tạo ra một sáng chế giống nhau. Một bên kịp thời nộp đơn đăng ký bảo hộ, còn bên kia thì không, nhưng cả hai đều đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đó. Khi văn bằng bảo hộ được cấp, quyền độc quyền thuộc về người đăng ký, song để bảo đảm công bằng và khuyến khích sự sáng tạo, pháp luật cho phép người đã tạo ra và sử dụng sáng chế một cách độc lập trước đó được tiếp tục sử dụng. Quyền này được gọi là “quyền sử dụng trước đối với sáng chế.”
Trong bài viết dưới đây, Công ty Luật CIS giới thiệu đến bạn đọc về quyền sử dụng trước đối với sáng chế, một trong các điểm pháp lý quan trọng mà bất kỳ chủ sở hữu, nhà sáng chế nào cũng nên biết khi khai thác sáng chế.
MỤC LỤC BÀI VIẾT
1. Sáng chế là gì?
Sáng chế là giải pháp kỹ thuật tồn tại dưới dạng một sản phẩm hoặc một quy trình, có chức năng nhất định, nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể trong đời sống hằng ngày.
| Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Khoản 12 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ |
Chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp các sáng chế thông qua những sản phẩm trong cuộc sống hằng ngày, chẳng hạn như:

Muốn được công nhận là chủ sở hữu độc quyền của sáng chế, theo quy định, sản phẩm hoặc quy trình cần trải qua thủ tục đăng ký sáng chế. Theo đó, chúng cần đáp ứng điều kiện bảo hộ sáng chế theo Luật Sở hữu trí tuệ. Điều kiện bảo hộ của sáng chế được chúng tôi trình bày chi tiết ở Phần 2 dưới đây.
2. Điều kiện bảo hộ sáng chế?
Không phải sáng chế nào khi nộp đơn đăng ký cũng được cấp Bằng độc quyền sáng chế. Theo Điều 58 Luật Sở hữu trí tuệ, điều kiện chung để sáng chế được bảo hộ là:
| Điều 58. Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
1. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chếnếu đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tính mới; b) Có trình độ sáng tạo; c) Có khả năng áp dụng công nghiệp. 2. Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu íchnếu không phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây: a) Có tính mới; b) Có khả năng áp dụng công nghiệp. |
Như vậy, sản phẩm hoặc quy trình có thể được cấp Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích, tùy vào việc hồ sơ đăng ký sáng chế được nộp thỏa mãn điều kiện cấp bằng theo hình thức nào trong hai hình thức này theo quy định.
Ngoài những điều kiện chung ở trên, còn nhiều điều kiện khác mà sáng chế cần đáp ứng, một trong những điều kiện quan trọng trong đó là:
Sáng chế KHÔNG RƠI VÀO các trường hợp không được bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế theo Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể:
| Điều 59. Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
|
Công ty Luật đã có bài viết giải đáp cụ thể về các đối tượng KHÔNG ĐƯỢC bảo hộ dưới danh nghĩa sáng chế, bạn đọc có thể xem lại Tại Đây.
3. Quyền sử dụng trước đối với sáng chế là gì?
Giả sử bạn là chủ sở hữu, đồng thời là tác giả của một sáng chế rất tâm đắc, bạn tin rằng sáng chế của mình là “có 1 không 2” trên đời, nhưng một ngày đẹp trời, bạn phát hiện có một bên khác sử dụng sáng chế giống bạn, có thể họ đang có quyền sử dụng trước đối với sáng chế.
Trước khi tìm hiểu “Quyền sử dụng trước đối với sáng chế là gì?”, bạn cần hiểu được: “Thế nào là sử dụng sáng chế?”.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ, sử dụng sáng chế là việc thực hiện các hành vi sau đây:
| a) Sản xuất sản phẩm được bảo hộ;
b) Áp dụng quy trình được bảo hộ; c) Khai thác công dụng của sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ; d) Lưu thông, quảng cáo, chào hàng, tàng trữ để lưu thông sản phẩm quy định tại điểm c khoản này; đ) Nhập khẩu sản phẩm quy định tại điểm c khoản này. |
Tiếp theo, “Quyền sử dụng trước đối với sáng chế” được quy định tại Khoản 1 Điều 134 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể:
|
Điều 134. Quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp 1. Trường hợp trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên (nếu có) của đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp mà có người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong đơn đăng ký nhưng được tạo ra một cách độc lập (sau đây gọi là người có quyền sử dụng trước) thì sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người đó có quyền tiếp tục sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ. Việc thực hiện quyền của người sử dụng trước sáng chế, kiểu dáng công nghiệp không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, kiểu dáng công nghiệp. |
Như vậy, Quyền sử dụng trước đối với sáng chế là quyền của người đã tự mình tạo ra và sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn đăng ký, trước thời điểm người khác nộp đơn đăng ký bảo hộ.
Quyền sử dụng trước đối với sáng chế không làm mất hiệu lực của văn bằng bảo hộ cấp cho người đăng ký, đồng thời cho phép người “trùng ý tưởng, cách thức và kết quả nghiên cứu” được tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc đã chuẩn bị để sử dụng, mà không cần xin phép hay trả tiền cho chủ sở hữu sáng chế được cấp bằng. Tuy nhiên, điều kiện quan trọng là sáng chế phải được tạo ra một cách độc lập, tức không sao chép hay dựa trên kết quả nghiên cứu của người khác.
Pháp luật chỉ công nhận quyền sử dụng trước khi người sử dụng đã thực sự áp dụng sáng chế hoặc chuẩn bị đầy đủ điều kiện để sử dụng trước ngày nộp đơn đăng ký của người khác. Quyền này mang ý nghĩa bảo vệ công bằng cho những nhà sáng chế chân chính, tránh tình trạng người “nhanh chân” đăng ký chiếm ưu thế tuyệt đối mà phủ nhận hoàn toàn quyền của người sáng tạo chân chính khác. Đồng thời, đây cũng là cơ chế khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo trong xã hội, giúp cân bằng giữa lợi ích của chủ sở hữu văn bằng và quyền lợi của người đã sáng tạo độc lập cùng hoặc trước đó.
4. Ai có quyền sử dụng trước đối với sáng chế?
Từ nội dung đã phân tích trong Mục 3 ở trên, người có quyền sử dụng trước đối với sáng chế là người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế đồng nhất với sáng chế trong đơn được đăng ký thỏa mãn điều kiện: sáng chế của người này được tạo ra độc lập trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong đơn sáng chế đã nộp.
Người sử dụng trước sáng chế theo quy định có thể sử dụng sáng chế mà không bị coi là xâm phạm quyền của chủ sở hữu sáng chế, cụ thể: sau khi văn bằng bảo hộ được cấp, người này được tiếp tục sử dụng sáng chế trong phạm vi và khối lượng đã sử dụng hoặc chuẩn bị, mà không cần xin phép hoặc trả tiền đền bù cho chủ sở hữu sáng chế.
Tuy nhiên, bạn đọc cũng cần lưu ý theo Khoản 2 Điều 134 Luật Sở hữu trí tuệ: quyền sử dụng trước đối với sáng chế bị giới hạn thông qua việc:
- Không được phép chuyển giao quyền đó cho người khác, trừ trường hợp chuyển giao quyền đó kèm theo việc chuyển giao cơ sở sản xuất, kinh doanh nơi sử dụng hoặc chuẩn bị sử dụng sáng chế.
- Không được mở rộng phạm vi, khối lượng sử dụng nếu không được chủ sở hữu sáng chế cho phép.
5. Dịch vụ đăng ký sáng chế
Công ty Luật Bản quyền Quốc tế (CIS Law Firm) là Tổ chức Đại diện Sở hữu công nghiệp được chứng nhận bởi Cục Sở hữu Trí tuệ Việt Nam. Luật sư và chuyên viên của Chúng tôi đã được đào tạo chuyên sâu về Sở hữu trí tuệ từ Cục Sở hữu trí tuệ và Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO. Với kiến thức và kinh nghiệm đã xử lý thành công nhiều hồ sơ đăng ký bảo hộ sáng chế, chúng tôi có thể hỗ trợ bạn:
|
Để giải đáp thắc mắc về vấn đề Quyền sử dụng trước đối với sáng chế, Bạn vui lòng liên hệ thông tin bên dưới để được tư vấn và yêu cầu dịch vụ:
PHÒNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ – CIS LAW FIRM
109 Hoàng Sa, Phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028 3911 8580 – 091 911 8580
Email: sohuutritue@cis.vn


