<php _e('Click to Call','call-now'); ?>

02839118581

Hotline: (+84)028.39118581
Email: info@cis.vn
Fanpage:
CIS Law Firm
  • Giới thiệu
    • Luật Sư Và Chuyên Gia
    • Nhân Viên
    • Khách Hàng
    • Đối Tác
  • Dịch vụ
    • Luật sư – Tranh tụng
      • Luật sư kinh doanh – Thương mại
      • Luật sư đất đai – Nhà ở
      • Luật sư ly hôn
      • Luật sư di chúc – Thừa kế
    • Thẻ Apec
      • Dịch vụ xin cấp thẻ Apec tại Công ty Luật CIS
    • Sở hữu trí tuệ
      • Sở hữu công nghiệp
      • Quyền tác giả
      • Dịch vụ đăng ký bản quyền tại Công ty Luật CIS
      • Đăng ký thương hiệu tại Công ty Luật CIS
    • Bản quyền – Thương hiệu
    • Tư vấn doanh nghiệp
      • Thành lập doanh nghiệp
      • Xây dựng quy chế công ty
      • Thay đổi – Đăng ký kinh doanh
      • Tái cơ cấu công ty (Sáp nhập, M&A, Giải thể…)
      • Tư vấn hợp đồng
    • Giấy phép đầu tư
      • Xin giấy phép đầu tư
      • Điều chỉnh giấy phép đầu tư
      • Dịch vụ tư vấn đầu tư
    • Việt Kiều – Người nước ngoài
    • Thẻ tạm trú
    • Giải quyết tranh chấp lao động
    • Giấy phép lao động
      • Dịch vụ làm giấy phép lao động cho người nước ngoài
  • Biểu mẫu
  • Tư Vấn Pháp Luật
    • Doanh Nghiệp – Công Ty
    • Sở Hữu Trí Tuệ
    • Đầu Tư Nước Ngoài
    • Thẻ Doanh Nhân Apec
    • Việt Kiều – Song Tịch
    • Lao Động – Tiền Lương
      • Lao Động – Việc Làm
      • Tiền Lương – Phụ Cấp
      • Bảo Hiểm Xã Hội
      • Bảo Hiểm Y Tế
      • Bảo Hiểm Thất Nghiệp
    • Dân Sự – Thừa Kế
      • Đất Đai – Nhà Ở
      • Hôn Nhân Gia Đình
      • Thừa Kế – Di Chúc
    • Người Nước Ngoài
      • Giấy Phép Lao Động
      • Thẻ Tạm Trú
    • Hợp Đồng Mẫu
    • Hành Chính – Cư Trú
    • Pháp Luật Về Thuế
    • Lĩnh Vực Tổng Hợp
  • Hỏi – Đáp
  • Liên Hệ
  • Language: Tiếng Việt
    • Tiếng Việt Tiếng Việt
    • English English
Main Menu

VIDAS và VIDAST: Nhãn hiệu bị từ chối vì tương tự gây nhầm lẫn và căn cứ để xem xét Thư Đồng Ý

11/03/202611/03/2026admin

Trong thực tiễn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam, việc nhãn hiệu đăng ký bị từ chối vì tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước là trường hợp khá phổ biến. Vụ việc nhãn hiệu VIDAS bị từ chối bảo hộ do tương tự gây nhầm lẫn với VIDAST dù người nộp đơn đã cung cấp Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng, là một ví dụ điển hình. Từ vụ việc này có thể thấy rằng Thư Đồng Ý không phải lúc nào cũng đủ để vượt qua căn cứ từ chối, đồng thời phản ánh sự khác biệt giữa cách hiểu của người nộp đơn và cách cơ quan Nhà Nước áp dụng pháp luật trong quá trình thẩm định điều kiện bảo hộ nhãn hiệu.

Trong bài viết này, Công ty Luật CIS sẽ phân tích một số điểm đáng chú ý về việc “Nhãn hiệu bị từ chối vì tương tự gây nhầm lẫn và căn cứ để xem xét Thư Đồng Ý“. Mời bạn đọc cùng tham khảo!

MỤC LỤC BÀI VIẾT

  • 1. Tóm Tắt Vụ Việc
  • 2. Quy định pháp luật về đánh giá tính tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu
  • 3. Nhãn hiệu đăng ký được chấp thuận bảo hộ nếu có Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng?
  • 4. Thời gian theo đuổi đăng ký nhãn hiệu bị xác định là tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác

1. Tóm Tắt Vụ Việc

Ngày 20/10/2016, bioMérieux (Pháp) nộp đơn đăng ký nhãn hiệu “VIDAS” ở Việt Nam, yêu cầu xem xét bảo hộ cho các hàng hóa thuộc Nhóm 01 (các sản phẩm hóa học dùng trong công nghiệp và khoa học; thuốc thử và môi trường dùng để giám sát, phát hiện chất gây ô nhiễm trong sản phẩm công nghiệp, nông thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm); Nhóm 05 (thuốc thử và môi trường dùng cho mục đích chẩn đoán y tế và thú y), Nhóm 10 (thiết bị và dụng cụ chẩn đoán y tế và thú y) và Nhóm 09 (thiết bị giám sát).

Ngày 28/08/2017, Cục Sở hữu trí tuệ ra Thông báo từ chối bảo hộ nhãn hiệu “VIDAS” đối với toàn bộ hàng hóa thuộc nhóm 01, 05 và 10, vì cho rằng nhãn hiệu “VIDAS” tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu “VIDAST” của SmithKline Beecham Limited (Anh) đã đăng ký trước và được bảo hộ đối với các hàng hóa thuộc nhóm 05 (Các chế phẩm dược và y tế) theo Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu số 22322 cấp ngày 10/09/1996.

Không đồng ý với kết quả này, bioMérieux (Pháp) đã nộp đơn khiếu nại vì cho rằng phạm vi hàng hóa đăng ký vẫn có khác biệt với hàng hóa trong nhãn hiệu đối chứng, và dấu hiệu “VIDAS” vẫn khác biệt với “VIDAST” về số lượng chữ cái và phát âm, dẫn các trường hợp “CANYON” và “CANNON”, “LEVER” và “LEVEL”, và đáng chú ý là Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng – SmithKline Beecham Limited (Anh) – cho phép bioMérieux (Pháp) đăng ký nhãn hiệu “VIDAS”.

Ngày 16/06/2025, Cục trưởng Cục SHTT ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần 1) cho rằng cả 2 nhãn hiệu đều là chữ in hoa phổ thông và cùng có 2 âm tiết (vi-đát), khác biệt ký tự cuối không tạo ra sự khác biệt rõ ràng. Danh mục hàng hóa nhóm 01, 05, 10 có tính chất tương tự với hàng hóa nhóm 05 của nhãn hiệu đối chứng do có bản chất, chức năng, mục đích giống nhau trong lĩnh vực y tế. Mặc dù có Thư Đồng Ý nhưng do nhãn hiệu đăng ký không có sự khác biệt rõ ràng nên vẫn tồn tại khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, khiến họ hiểu rằng VIDAS là biến thể của VIDAST. Vì vậy, kết quả giải quyết khiếu nại là vẫn bảo lưu quan điểm từ chối.

Ngày 17/07/2025, bioMérieux (Pháp) tiếp tục nộp đơn khiếu nại (lần 2) đến Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công Nghệ, tuy nhiên, kết quả xem xét, xác minh khiếu nại vẫn không thay đổi kết quả từ chối.

dich-vu-dang-ky-ban-quyen-thuong-hieu

2. Quy định pháp luật về đánh giá tính tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu

Theo điểm e khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, quy định về các trường hợp nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt như sau:

Điều 74. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu

2. Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

e) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của tổ chức, cá nhân khác được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, trừ trường hợp đăng ký nhãn hiệu đó bị chấm dứt hiệu lực theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 95 hoặc bị hủy bỏ hiệu lực theo quy định tại Điều 96 theo thủ tục quy định tại điểm b khoản 3 Điều 117 của Luật này;

Theo khoản 8 Điều 26 Thông tư 23/2023/TT-BKHCN, việc đánh giá sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu yêu cầu đăng ký với nhãn hiệu khác được thực hiện như sau:

Điều 26. Thẩm định nội dung đơn đăng ký nhãn hiệu

8. Việc đánh giá sự tương tự đến mức gây nhầm lẫn của dấu hiệu yêu cầu đăng ký với nhãn hiệu khác được thực hiện như sau:

a) Để đánh giá dấu hiệu yêu cầu đăng ký nêu trong đơn có trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn hiệu khác (sau đây gọi là “nhãn hiệu đối chứng”) hay không, cần phải so sánh về cách phát âm, ý nghĩa (đối với dấu hiệu chữ), cấu tạo và cách thức thể hiện của dấu hiệu (đối với cả dấu hiệu chữ và dấu hiệu hình) theo quy định tại các điểm b và c khoản này, đồng thời phải tiến hành so sánh hàng hóa, dịch vụ mang dấu hiệu với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng theo quy định tại khoản 9 Điều này.

b) Dấu hiệu trùng với nhãn hiệu đối chứng: dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu đối chứng nếu dấu hiệu đó giống hệt nhãn hiệu đối chứng về cấu tạo và cách thức thể hiện.

c) Dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đối chứng nếu:

(i) Dấu hiệu đó gần giống với nhãn hiệu đối chứng về cấu tạo hoặc/và cách phát âm hoặc/và ý nghĩa hoặc/và hình thức thể hiện đến mức làm cho người tiêu dùng tưởng lầm rằng hai đối tượng đó là một hoặc đối tượng này là biến thể của đối tượng kia hoặc hai đối tượng đó có cùng một nguồn gốc;

(ii) Dấu hiệu chỉ là bản phiên âm hoặc dịch nghĩa từ nhãn hiệu đối chứng nếu nhãn hiệu đối chứng là nhãn hiệu nổi tiếng.

9. Việc đánh giá sự tương tự của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện như sau:

a) Hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ bị coi là trùng nhau (cùng loại) khi hai hàng hoá hoặc hai dịch vụ đó có các đặc điểm sau đây:

(i) Có cùng bản chất (thành phần, cấu tạo v.v.) và cùng chức năng, mục đích sử dụng; hoặc

(ii) Có bản chất gần giống nhau và cùng chức năng, mục đích sử dụng;

b) Hai hàng hóa hoặc hai dịch vụ bị coi là tương tự nhau nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(i) Tương tự nhau về bản chất và được đưa ra thị trường theo cùng một kênh thương mại (phân phối theo cùng một phương thức, được bán cùng nhau hoặc cạnh nhau, trong cùng một loại cửa hàng, công chúng có liên quan/người tiêu dùng có liên quan v.v.);

(ii) Tương tự nhau về chức năng, mục đích sử dụng và được đưa ra thị trường theo cùng một kênh thương mại (phân phối theo cùng một phương thức, được bán cùng nhau hoặc cạnh nhau, trong cùng một loại cửa hàng, công chúng có liên quan/người tiêu dùng có liên quan v.v.).

c) Một hàng hóa và một dịch vụ bị coi là tương tự nhau nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

(i) Giữa chúng có mối liên quan với nhau về bản chất (hàng hóa, dịch vụ hoặc nguyên liệu, bộ phận của hàng hóa, dịch vụ này được cấu thành từ hàng hóa, dịch vụ kia); hoặc

(ii) Giữa chúng có mối liên quan với nhau về chức năng (để hoàn thành chức năng của hàng hóa, dịch vụ này phải sử dụng hàng hóa, dịch vụ kia hoặc chúng thường được sử dụng cùng nhau); hoặc

(iii) Giữa chúng có mối liên quan chặt chẽ với nhau về phương thức thực hiện (hàng hóa, dịch vụ này là kết quả của việc sử dụng, khai thác hàng hóa, dịch vụ kia v.v.).

Theo đó, trong trường hợp nhãn hiệu đối chứng không phải là nhãn hiệu nổi tiếng, nhãn hiệu đăng ký sẽ bị coi là “tương tự gây nhầm lẫn” với nhãn hiệu đối chứng khi đồng thời đáp ứng hai điều kiện sau:

  • Thứ nhất, về dấu hiệu: Dấu hiệu đăng ký gần giống với nhãn hiệu đối chứng về cấu tạo, cách phát âm, ý nghĩa hoặc hình thức thể hiện đến mức khiến người tiêu dùng có thể nhầm lẫn rằng hai dấu hiệu là một, hoặc một dấu hiệu là biến thể của dấu hiệu kia, hoặc cả hai có cùng nguồn gốc thương mại.
  • Thứ hai, về hàng hóa, dịch vụ: Hàng hóa hoặc dịch vụ mang dấu hiệu đăng ký trùng hoặc tương tự với hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu đối chứng, từ đó làm phát sinh khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của sản phẩm hoặc dịch vụ.

∗ Đối chiếu trong vụ việc VIDAS và VIDAST:

– Về dấu hiệu: trong vụ việc đang xem xét, VIDAS và VIDAST đều là nhãn hiệu dạng chữ, được trình bày bằng kiểu chữ cơ bản, không có yếu tố đồ họa đặc biệt. Hai nhãn hiệu có cấu tạo gần như trùng nhau (5/6 ký tự) và chỉ khác biệt ở ký tự “T” nằm ở vị trí cuối cùng của nhãn hiệu VIDAST. Đồng thời, cả hai dấu hiệu đều được phát âm thành hai âm tiết với cách đọc gần như tương đồng (vi-đát). Do đó, việc xác định nhãn hiệu đăng ký VIDAS không tạo ra sự khác biệt rõ ràng so với nhãn hiệu đối chứng VIDAST được xem là có cơ sở.

– Về hàng hóa:

Nhãn hiệu đối chứng VIDAST đã được bảo hộ cho nhóm 05 (các chế phẩm dược và y tế). Trong khi đó, nhãn hiệu VIDAS đăng ký cho các hàng hóa thuộc:

  • Nhóm 01 (các sản phẩm hóa học dùng trong công nghiệp và khoa học; thuốc thử và môi trường dùng để giám sát, phát hiện chất gây ô nhiễm trong sản phẩm công nghiệp, nông thực phẩm, mỹ phẩm và dược phẩm);
  • Nhóm 05 (thuốc thử và môi trường dùng cho mục đích chẩn đoán y tế và thú y) và
  • Nhóm 10 (thiết bị và dụng cụ chẩn đoán y tế và thú y).

Mặc dù không hoàn toàn trùng lặp về phân loại nhóm, các hàng hóa này được đánh giá là có mối liên hệ chặt chẽ về bản chất, chức năng và mục đích sử dụng trong lĩnh vực y tế, do đó có thể tạo ra khả năng nhầm lẫn về nguồn gốc thương mại đối với người tiêu dùng.

Có thể thấy rằng việc đánh giá tính tương tự gây nhầm lẫn của nhãn hiệu là một quá trình phức tạp. Ngoài việc nắm vững các quy định pháp luật, quá trình đánh giá còn đòi hỏi kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu. Cơ quan thẩm định thường phải xem xét nhiều yếu tố như: bản chất và chức năng của hàng hóa, dịch vụ; mục đích sử dụng; phương thức cung cấp hoặc sử dụng; kênh phân phối và thị trường tiêu thụ. Việc phân tích đầy đủ các yếu tố này là cơ sở để xác định liệu hai nhãn hiệu có thể cùng tồn tại trên thị trường mà không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng hay không.

Xem thêm: Lí do nhãn hiệu bị từ chối vì trùng, tương tự gây nhầm lẫn

3. Nhãn hiệu đăng ký được chấp thuận bảo hộ nếu có Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng?

Trong thực tiễn đăng ký nhãn hiệu, “Thư Đồng Ý” (tiếng Anh: Consent Letter hoặc Letter of Consent) là văn bản do chủ sở hữu nhãn hiệu đã tồn tại cấp, nhằm cho phép một bên khác đăng ký hoặc sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự với nhãn hiệu của mình trong phạm vi nhất định.

Thông thường, Thư Đồng Ý được sử dụng trong trường hợp đơn đăng ký nhãn hiệu bị từ chối do có dấu hiệu tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước. Người nộp đơn khi đó có thể nộp Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng để chứng minh rằng hai bên đã đạt được sự đồng thuận về việc cùng tồn tại của các nhãn hiệu.

Tuy nhiên, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam không có quy định cụ thể nào xác định rằng việc cung cấp Thư Đồng Ý sẽ đương nhiên giúp vượt qua ý kiến từ chối khi nhãn hiệu đăng ký sau bị xác định là tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đăng ký trước, nhưng thực tế đã có một số trường hợp Thư Đồng Ý được xem xét như một yếu tố tham khảo và nhãn hiệu đăng ký sau vẫn được chấp thuận bảo hộ nếu cơ quan thẩm định đánh giá rằng khả năng gây nhầm lẫn là không đáng kể.

Trong vụ việc VIDAS và VIDAST, phía VIDAS đã cung cấp Thư Đồng Ý từ chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng VIDAST để hỗ trợ quá trình đăng ký tại Việt Nam. Nội dung Thư Đồng Ý thể hiện rằng phía VIDAST đồng ý việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu VIDAS cho các hàng hóa thuộc các nhóm 01, 05 và 10 tại Việt Nam, đồng thời không phản đối nếu nhãn hiệu VIDAS được bảo hộ, nhưng Cục Sở hữu trí tuệ không chấp nhận xem xét Thư Đồng Ý này, lý do là văn bản chỉ thể hiện sự đồng thuận giữa hai chủ thể mà không có cơ sở nào để loại trừ khả năng gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng giữa hai nhãn hiệu.

Theo đó, không phải mọi trường hợp người nộp đơn cung cấp Thư Đồng Ý của chủ sở hữu nhãn hiệu đối chứng thì nhãn hiệu đăng ký sau sẽ đương nhiên được chấp nhận bảo hộ mà trong quá trình thẩm định, cơ quan có thẩm quyền vẫn phải đánh giá khách quan về khả năng gây nhầm lẫn của nhãn hiệu đối với người tiêu dùng. Điều này xuất phát từ bản chất của nhãn hiệu, vốn là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau trên thị trường, mà ý chí thỏa thuận mang tính chủ quan giữa hai chủ sở hữu nhãn hiệu không thể thay thế cho việc đánh giá nhận thức của tập thể người tiêu dùng. Đặc biệt, trong trường hợp nhãn hiệu đăng ký bị xác định là không khác biệt đáng kể so với nhãn hiệu đối chứng, khả năng được chấp thuận bảo hộ vẫn rất hạn chế dù đã có Thư Đồng Ý.

Như vậy, có thể thấy rằng Thư Đồng Ý trong đăng ký nhãn hiệu chỉ mang tính hỗ trợ, không phải là yếu tố quyết định việc cấp văn bằng bảo hộ. Nếu muốn vượt qua được ý kiến từ chối, người nộp đơn vẫn cần chứng minh thuyết phục rằng nhãn hiệu đăng ký có khả năng phân biệt và không gây nhầm lẫn trên thị trường, bất kể có hay không sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu trước đó.

4. Thời gian theo đuổi đăng ký nhãn hiệu bị xác định là tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu khác

Trong thực tiễn đăng ký nhãn hiệu, một trong những rủi ro lớn đối với doanh nghiệp là đơn đăng ký bị từ chối do nhãn hiệu tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã đăng ký trước. Khi đó, quá trình theo đuổi đơn có thể kéo dài nhiều năm, gây ảnh hưởng đáng kể đến chiến lược kinh doanh và việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ.

Theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, sau khi đơn đăng ký nhãn hiệu được công bố, đơn sẽ được thẩm định nội dung trong thời hạn 9 tháng. Tuy nhiên, trên thực tế, do số lượng đơn đăng ký nhãn hiệu thường tăng cao qua các năm, khối lượng công việc thẩm định lớn và tính chất hồ sơ ngày càng phức tạp, nên thời gian thẩm định thực tế thường kéo dài hơn từ 12 đến 18 tháng, ngay cả đối với những đơn được đánh giá là “trôi chảy” và không gặp vướng mắc đáng kể. Trong trường hợp phát sinh từ chối bảo hộ, phản đối hoặc khiếu nại, thời gian xử lý có thể kéo dài hơn rất nhiều.

Điển hình là vụ việc VIDAS của bioMérieux, cụ thể, đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp vào ngày 20/10/2016. Sau quá trình thẩm định và theo đuổi khiếu nại, đến tháng 01/2026, đơn đăng ký mới có kết quả giải quyết cuối cùng là không được chấp nhận bảo hộ. Như vậy, tổng thời gian xử lý kéo dài hơn 9 năm – một khoảng thời gian rất dài so với vòng đời thương mại của nhiều sản phẩm trên thị trường. Đáng chú ý, giai đoạn từ khiếu nại lần thứ nhất sang khiếu nại lần thứ hai đã kéo dài hơn 7 năm. Trong suốt thời gian này, doanh nghiệp không chỉ phải tốn kém thời gian và chi phí theo đuổi đăng ký mà còn mất đi lợi thế cạnh tranh do chưa thể xác lập quyền độc quyền đối với nhãn hiệu.

Vì vậy, trước khi đưa sản phẩm ra thị trường, doanh nghiệp cần:

  • được tham vấn pháp lý ngay từ giai đoạn xây dựng nhãn hiệu;
  • thực hiện tra cứu chuyên sâu nhãn hiệu trước khi nộp đơn;
  • đánh giá mức độ tương tự và khả năng gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu đã tồn tại.

Việc tra cứu và đánh giá kỹ lưỡng từ sớm sẽ giúp doanh nghiệp dự đoán chính xác tỷ lệ thành công của đơn đăng ký, từ đó có thể điều chỉnh chiến lược đặt tên hoặc xây dựng nhãn hiệu phù hợp, thay vì mất nhiều năm theo đuổi một hồ sơ có rủi ro pháp lý cao.

Trong trường hợp Người nộp đơn cần sự hỗ trợ của đơn vị có chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói chung cũng như thủ tục đăng ký nhãn hiệu nói riêng thì có thể ủy quyền cho đơn vị Đại diện Sở hữu công nghiệp của Cục SHTT như Công ty Luật CIS để được tư vấn, đại diện thực hiện thủ tục đăng ký và kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, tránh trường hợp hồ sơ bị từ chối.

PHÒNG SỞ HỮU TRÍ TUỆ – CIS LAW FIRM

109 Hoàng Sa, Phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 3911 8580 – Hotline: 091 911 8580

Email: sohuutritue@cis.vn

4.9 / 5 ( 43 đánh giá )
News, Sở hữu trí tuệbản quyền logo, Bảo hộ thương hiệu, công ty luật cis, sở hữu trí tuệ, đăng ký bảo hộ thương hiệu, Đăng ký thương hiệu

Bài viết cùng chủ đề

5 điều cần biết về quyết định chấp nhận đơn hợp lệ đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Thủ tục cấp lại văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Mẫu hợp đồng mua bán thương hiệu

Hướng dẫn phân loại sáng chế IPC

Khi nào được sử dụng nhãn hiệu: sau khi nộp đơn đăng ký hay sau khi được cấp văn bằng?

Cách thức gia hạn hiệu lực văn bằng bảo hộ thương hiệu

Hướng dẫn đăng ký bản quyền truyện ngắn

Những điều cần biết về trình độ sáng tạo của sáng chế

Quyết định chấp nhận đơn đăng ký nhãn hiệu

Khả năng áp dụng công nghiệp khi đăng ký Kiểu dáng công nghiệp

  • Đăng ký bản quyền game cầm tay (27/01)
  • Mẫu hợp đồng mua bản quyền bài hát (26/01)
  • Tác phẩm phái sinh và những điều cần biết (22/01)
  • Quyền nhân thân của tác giả là gì? (13/01)
  • Nhãn hiệu mang tính mô tả là gì và cách thức bảo hộ? (13/01)
  • Quyền tài sản đối với tác phẩm (13/01)
  • Hướng dẫn đăng ký bản quyền tản văn mới nhất (06/01)
  • Thay đổi quan trọng khi đăng ký nhãn hiệu từ 01/01/2026 (05/01)
  • Phân biệt sáng chế và giải pháp hữu ích (26/12)
  • Đăng ký độc quyền thương hiệu phòng khám da liễu (23/12)

Post navigation

← Bồi hoàn chi phí đào tạo
Khi nào được sử dụng nhãn hiệu: sau khi nộp đơn đăng ký hay sau khi được cấp văn bằng? →

Tin mới nhất

  • Thừa kế theo di chúc là gì? Quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc

    Thừa kế theo di chúc là gì? Quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc

  • Tranh chấp hợp đồng góp vốn

    Tranh chấp hợp đồng góp vốn

  • 5 điều cần biết về quyết định chấp nhận đơn hợp lệ đăng ký kiểu dáng công nghiệp

    5 điều cần biết về quyết định chấp nhận đơn hợp lệ đăng ký kiểu dáng công nghiệp

  • Mẫu hợp đồng kinh tế

    Mẫu hợp đồng kinh tế

  • Các trường hợp miễn giấy phép lao động cho người nước ngoài

    Các trường hợp miễn giấy phép lao động cho người nước ngoài

Hoạt động tiêu biểu

Dịch vụ nổi bật

  1. 1
  2. 2
lam-the-apec

dang-ky-ban-quyen-thuong-hieu

dau-tu-nuoc-ngoai

Địa chỉ: 109 Hoàng Sa, Phường Tân Định, TP.HCM
Điện thoại: 84.028.39118581
Website: www.cis.vn
Email : info@cis.vn

Language:

  • Tiếng Việt
  • English

*Chính sách bảo mật thông tin*

Copyright © 2026 CIS Law Firm.
Proudly powered by WordPress | Theme: CISLAWFIRM