Không có tên trong di chúc vẫn được hưởng thừa kế?

Di chúc là căn cứ quan trọng để phân chia tài sản của người đã mất. Tuy nhiên, không phải người không được nêu tên trong di chúc thì không được thừa kế. Pháp luật quy định một số đối tượng đặc biệt vẫn được hưởng một phần di sản, dù nội dung di chúc không đề cập đến họ. Đây chính là quy định về “thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc” – nhằm bảo vệ quyền lợi tối thiểu của những người thân thiết, yếu thế, và đảm bảo sự công bằng trong việc phân chia di sản.

Bài viết ngày hôm nay của Công ty Luật CIS sẽ trả lời cho câu hỏi Không có tên trong di chúc vẫn được hưởng thừa kế?, mời mọi người cùng theo dõi.

1. Di chúc là gì?

Di chúc là sự thể hiện ý chí của một người, nhằm chỉ định, xác định cách thức phân chia tài sản của mình cho những khác sau khi mình qua đời. Nói cách khác, Di chúc là văn bản hoặc hình thức hợp pháp khác (bằng lời nói) mà qua đó, người để lại di sản chủ động sắp xếp việc chuyển giao tài sản sau khi mất, bảo đảm phù hợp với mong muốn cá nhân.

Hiểu đơn giản hơn, di chúc là giấy tờ hoặc lời nói của một người, để dặn dò và quyết định tài sản, đồ đạc, hoặc quyền lợi của mình sẽ được chia cho ai, chia như thế nào sau khi người đó mất.

lap-di-chuc

2. Điều kiện có hiệu lực của di chúc

Di chúc là căn cứ quan trọng trong việc quyết định phân chia tài sản của chủ tài sản sau khi mất, nên hiệu lực của di chúc là một điều kiện bắt buộc để chứng minh tính hợp pháp của di chúc.

Một di chúc sẽ có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:

Thứ nhất: Điều kiện về chủ thể

Người lập do chúc phải có quyền định đoạt theo pháp luật đối với tài sản ghi nhận trong di chúc. Bên cạnh đó, luật cũng quy định người lập di chúc phải đạt một độ tuổi nhất định về nhận thức của bản thân, để có thể quyết định phân chia tài sản một cách chính xác.

Theo quy định Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc phải là người thành niên có tài sản để lại. Ngoài ra chủ thể phải có sự minh mẫn, sáng suốt và không bị lừa dối hay có dấu hiệu bị đe dọa hoặc cưỡng ép trong việc lập di chúc. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có quyền được lập di chúc khi có sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc định đoạt tài sản.

Quy định trên nhằm đảm bảo di chúc được lập hoàn toàn dựa trên ý chí, mong muốn của người chủ sở hữu tài sản. Nếu người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt hay bị người khác ép buộc, đe dọa thì nội dung di chúc đó không đảm bảo được tính khách quan để công nhận hiệu lực di chúc.

Thứ hai: Điều kiện về hình thức của di chúc

Hình thức của di chúc theo quy định hiện hành bao gồm: di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.

  • Di chúc bằng văn bản, bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
  • Di chúc miệng: người mất thể hiện nguyện vọng của mình trước ít nhất 2 người làm chứng và được ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Sau đó, trong thời hạn 05 ngày làm việc, di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Dù được lập dưới hình thức nào, di chúc phải đảm bảo điều kiện hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. Nghĩa là phải hình thức lập di chúc phải đúng và đủ các điều kiện đối với từng hình thức. Một số trường hợp đặc biệt, luật quy định hình thức lập di chúc nhất định như sau:

  • Người chưa thành niên (người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi) phải được lập thành văn bản và phải được sự đồng ý của cha, mẹ hoặc người giám hộ về việc lập di chúc.
  • Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

Thứ ba: Điều kiện về nội dung của di chúc:

Nội dung di chúc phải đảm bảo các thông tin cơ bản như:

  • Ngày lập di chúc;
  • Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
  • Họ, tên cá nhân hoặc thông tin tổ chức được hưởng di sản;
  • Thông tin về di sản, địa điểm di sản và các nội dung khác (nếu có).

Di chúc phải được viết đầy đủ, không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.

Ngoài ra, nội dung di chúc phải đảm bảo tính đúng đắn, thể hiện ý chí nguyện vọng người lập di chúc, không được vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

dich-vu-xin-cap-the-apec-tai-cong-ty-luat-cis

3. Người thừa kế theo di chúc

Người thừa kế theo di chúc là cá nhân hoặc tổ chức được người lập di chúc chỉ định để nhận một phần hoặc toàn bộ tài sản của họ sau khi qua đời. Việc chỉ định này thể hiện ý chí tự do của người để lại di sản, miễn là không vi phạm các quy định pháp luật về hình thức, nội dung di chúc.

Người thừa kế theo di chúc có thể là thành viên trong gia đình, bạn bè, hoặc bất kỳ cá nhân, tổ chức nào mà người lập di chúc mong muốn trao tài sản. Họ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống, hôn nhân hoặc nuôi dưỡng với người để lại di sản. Tuy nhiên, để được công nhận là người thừa kế theo di chúc, người đó phải còn sống (hoặc tồn tại về mặt pháp lý nếu là tổ chức) tại thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người lập di chúc chết, trừ trường hợp thừa kế thế vị.

Tuy nhiên, nếu người thừa kế có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với người lập di chúc hoặc có hành vi trái pháp luật liên quan đến việc thừa kế, họ có thể bị tước quyền hưởng di sản. Điều này nhằm bảo đảm tính công bằng và tôn trọng ý chí của người để lại tài sản.

4. Không có tên trong di chúc vẫn được hưởng thừa kế?

Việc định đoạt tài sản của người lập di chúc cho ai là theo ý chí, nguyệt vọng của họ. Tuy nhiên, pháp luật có quy định bảo vệ quyền lợi cho một số đối tượng nhất định, dù di chúc không đề cập hoặc thậm chí có nội dung loại trừ họ. Đây được gọi là “thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc”. Quy định này nhằm đảm bảo những người thân yếu thế, người có mối quan hệ huyết thống, hôn nhân với người để lại di sản, họ vẫn được nhận một phần di sản để đảm bảo cuộc sống, đồng thời cân bằng giữa ý chí của người lập di chúc và sự công bằng xã hội.

Theo quy định Bộ luật Dân sự 2015, những người không có tên trong di chúc vẫn được hưởng di sản thừa kế bao gồm:

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Những đối tượng trên được hiểu như sau:

  • Con chưa thành niên được xác định tại thời điểm mở thừa kế phải chưa đủ 18 tuổi.
  • Cha, mẹ của người để lại di sản: có thể là cha mẹ ruột hoặc cha mẹ nuôi theo pháp luật.
  • Vợ, chồng của người để lại di sản: phải là vợ hoặc chồng hợp pháp theo Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Để cân bằng giữa ý chí của người lập di chúc và sự công bằng xã hội, pháp luật quy định những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc không được hưởng trọn vẹn một phần di sản thừa kế mà chỉ được hưởng hai phần ba suất theo luật.

Như vậy, dù không có tên trong di chúc, thì con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng của người mất và con thành niên mà không có khả năng lao động của người mất vẫn được hưởng thừa kế.

dich-vu-dang-ky-ban-quyen-thuong-hieu

5. Nguyên tắc phân chia di sản theo di chúc

Nguyên tắc phân chia di sản theo di chúc được thực hiện theo quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 659 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 659. Phân chia di sản theo di chúc

  1. Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  2. Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  3. Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.

Như vậy, nếu di chúc được lập hợp pháp, tại thời điểm chia thừa kế theo di chúc, pháp luật sẽ đảm bảo nguyên tắc phân chia ưu tiên theo ý chí, nguyện vọng của người mất trước nhất.

Trên đây là bài viết về Không có tên trong di chúc vẫn được hưởng thừa kế. Nếu bạn có vướng mắc, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Công ty Luật CIS để được tư vấn (có tính phí) theo thông tin sau:

PHÒNG PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP – CIS LAW FIRM

Địa chỉ: 109 Hoàng Sa, Phường Tân Định, Thành phố Hồ Chí Minh

Điện thoại: 028 3911 8581 – 3911 8580 – Hotline: 0916 568 101

Email: info@cis.vn