Trong quá trình làm việc, việc nhân viên vô tình hoặc cố ý gây thiệt hại cho tài sản, uy tín hay lợi ích của công ty không phải là chuyện hiếm gặp. Từ những sự cố như làm hỏng thiết bị, thất thoát hàng hóa, cho đến việc tiết lộ thông tin nội bộ,… tất cả đều có thể dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp. Khi đó, câu hỏi đặt ra là: nhân viên phải bồi thường như thế nào? mức bồi thường bao nhiêu và căn cứ vào đâu?
Bài viết dưới đây, Công ty Luật CIS sẽ giúp bạn hiểu rõ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động đối với công ty.
MỤC LỤC BÀI VIẾT
- 1. Quy định về bồi thường thiệt hại cho công ty
- 2. Nhân viên gây thiệt hại cho công ty phải bồi thường như thế nào?
- 3. Gây thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng?
- 4. Thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất là gì?
- 5. Thiệt hại bao nhiêu thì được sa thải nhân viên
- 6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp lao động.
1. Quy định về bồi thường thiệt hại cho công ty
Bồi thường thiệt hại cho công ty là trách nhiệm của người lao động trong việc hoàn trả cho công ty giá trị tài sản bị mất, hư hỏng hoặc thiệt hại do hành vi của mình gây ra trong quá trình làm việc. Việc bồi thường nhằm khắc phục hậu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp khi thiệt hại xảy ra. Mức và hình thức bồi thường được xác định tùy theo tính chất, mức độ lỗi và giá trị thiệt hại thực tế. Trong một số trường hợp thiệt hai không nghiêm trọng do sơ suất, người lao động chỉ phải bồi thường giới hạn; nhưng nếu thiệt hại nghiêm trọng hoặc có hợp đồng trách nhiệm, việc bồi thường có thể tính theo giá trị thị trường hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Việc bồi thường thiệt hại cho công ty được pháp luật quy định trong các văn bản sau:
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 do Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2021;
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.

2. Nhân viên gây thiệt hại cho công ty phải bồi thường như thế nào?
Như vừa nêu ở Mục 1 Bài viết, tùy theo tính chất, mức độ lỗi (sơ suất, lỗi vô ý, lỗi cố ý) và giá trị thiệt hại thực tế, mà việc bồi thường thiệt hại được pháp luật quy định như sau:
- Trường hợp Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của công ty thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của công ty.
Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định.
- Trường hợp Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của công ty hoặc tài sản khác do công ty giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.
3. Gây thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng?
Để trả lời cho câu hỏi thiệt hại bao nhiêu là nghiêm trọng, chúng ta cùng tìm hiểu Bộ luật lao động đề cập đến thiệt hại nghiêm trọng, thiệt hại không nghiêm trọng như thế nào, cụ thể như sau:
- Thuật ngữ “thiệt hại không nghiêm trọng” được luật quy định trong phần bồi thường thiệt hại, cụ thể, luật quy định: “Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương”.
Quy định này phải hiểu đầy đủ bố cục là “người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng” + “do sơ suất” + “với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng”. Không được hiểu “thiệt hại không nghiêm trọng” = “từ 10 tháng lương tối thiểu vùng”.
- Thuật ngữ “thiệt hại nghiêm trọng” được luật quy định trong phần xử lý kỷ luật sa thải, cụ thể, luật quy định: “công ty được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải khi Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động”.
Như vậy, khi đặt vấn đề thiệt hại nghiêm trọng hay thiệt hại không nghiêm trọng chúng ta cần đặt trong một ngữ cảnh/ hoàn cảnh cụ thể để giải quyết một vấn đề cụ thể. Đồng thời, mức độ “nghiêm trọng” phải được xem xét trên tổng thể: bản chất, giá trị thiệt hại, nguyên nhân, hậu quả và quan trọng là yếu tố lỗi của người lao động. Vì nhiều trường hợp giá trị thiệt hại nhỏ nhưng hậu quả lại rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín hay hoạt động của công ty. Do đó, “thiệt hại nghiêm trọng” không nằm ở con số tuyệt đối, mà còn ở tác động thực tế mà hành vi gây ra cho doanh nghiệp. Còn về mặt pháp lý, việc xác định thế nào là nghiêm trọng sẽ do nội quy hoặc hợp đồng lao động của từng công ty quy định.
4. Thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất là gì?
Thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất là trường hợp người lao động gây ra thiệt hại cho công ty vì sự thiếu cẩn thận, không chú ý đúng mức, dẫn đến những sai sót không mong muốn, chứ không phải do cố ý. Sơ suất thường xuất phát từ tâm lý chủ quan, vội vàng hoặc thiếu tập trung khi làm việc. Những thiệt hại này thường có giá trị không lớn và hậu quả không nghiêm trọng, không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động chung.
Bộ luật Lao động quy định: nếu người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất, với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng, thì chỉ phải bồi thường tối đa ba tháng tiền lương. Trên thực tế, việc xem xét có phải là “thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất” hay không cần đánh giá tổng thể về giá trị thiệt hại, nguyên nhân, và mức độ lỗi để bảo đảm công bằng cho cả người lao động và công ty.
| Điều 129. Bồi thường thiệt hại
1… Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này. 2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường. (Theo Điều 129 Bộ luật Lao động 2019) |
5. Thiệt hại bao nhiêu thì được sa thải nhân viên
Doanh nghiệp được áp dụng hình thức xử lý kỷ thuật sa thải nhân viên nếu nhân viên vi phạm một trong các trường hợp dưới đây:
- Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc;
- Người lao động có hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc được quy định trong nội quy lao động;
- Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật. Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 126 của Bộ luật này;
- Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
Và như đã đề cập tại Mục 3 bài viết, việc xác định thế nào là nghiêm trọng sẽ do nội quy lao động của công ty quy định hoặc hợp đồng mà nhân viên và công ty đã ký kết.
6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp lao động.
Tranh chấp lao động là một trong những tranh chấp thường xuyên xảy ra tại Công ty, đặc biệt là những Công ty sử dụng nhiều lao động. Những tranh chấp thường thấy có thể kể đến như là: Lương thưởng, nghỉ ngơi, Bảo hiểm xã hội, sa thải, buộc thôi việc, bị đuổi việc,… Khi lâm vào tình trạng trên thì cả Công ty và người lao động đều bị tổn thất rất nhiều thời gian và chi phí theo đuổi giải quyết tranh chấp lao động tại các cơ quan chức năng: Tòa án, Liên đoàn lao động, Thanh tra chuyên ngành,…
Do vậy, hiểu được thực trạng nêu trên Công ty Luật TNHH Bản quyền Quốc tế (CIS LAW FIRM) với nhiều năm kinh nghiệm trong tư vấn pháp luật lao động, với đội ngũ Luật sư giàu chuyên môn, tận tâm, trách nhiệm sẽ giúp khách hàng giải đáp tất cả các vấn đề quý khách còn băn khoăn và đồng hành cùng khách hàng giải quyết vụ việc một cách phù hợp.
Dịch vụ CIS LAW FIRM thực hiện bao gồm:
|
Trên đây là nội dung về Nhân viên gây thiệt hại cho công ty phải bồi thường như thế nào? của Công ty Luật CIS. Nếu bạn có vướng mắc hay bạn có nội dung nào chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Luật sư của Công ty Luật CIS theo thông tin sau:
PHÒNG PHÁP LÝ DOANH NGHIỆP – CIS LAW FIRM
109 Hoàng Sa, Phường Tân Định, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 028 3911 8581 – 3911 8582 – Hotline: 0916 568 101
Email: info@cis.vn


